Ba chàng trai ấy là anh em ruột: Hồ Văn Trung, Hồ Văn Hòa và Hồ Văn Hinh. Để gặp những con người dám nghĩ và đã làm nên “kỳ tích” như vậy, tôi phải nhờ anh Nguyễn Minh Hải, cán bộ văn phòng UBND xã Ba Nang dẫn đường về rẻo cao Đá Bàn. Mất một ngày đi bộ, chúng tôi mới đến bản Đá Bàn. Từ đây, nhìn lên núi Ka Niêng, đã thấy con đường đất màu đỏ sẫm, nhỏ chỉ bằng sợi dây vắt từ chân lên tới đỉnh. Tôi thắc mắc làm thế nào “bò” lên tới đỉnh theo con đường đó, anh Hải cười, giảng giải: “Chúng ta đang ở xa chân núi chừng 30 phút đi bộ nữa; đường ở đó rộng, ôtô tải chạy lên được...”. Khi đã chạm vào chân núi và những thửa đất mỡ màu, ngút ngàn màu xanh cây trái dọc hai bên con đường dẫn lên tới đỉnh, tôi mới thấy hết sự đổi thay kỳ diệu trong nghĩ suy và cách làm của ba chàng trai Vân Kiều. Trước tiên tôi gặp là người anh cả Hồ Văn Trung. Tạm nghỉ việc xới đất, nhặt cỏ cho rẫy sắn, Trung kể chuyện rằng, cách đây 5 năm, trong đợt cuối năm quẫn trí, củ sắn cũng không có để ăn, anh nhìn mọi người trong nhà và thương lắm, bèn gọi các em của mình đến bàn cách làm ăn.
Nhưng, hai người em đều lắc đầu, hỏi: “Anh bảo chúng em phải làm thế nào?”. Sau nhiều đêm nghĩ suy, thương vợ con, anh quyết định cầm cái cuốc thay vợ. Anh nghĩ tới núi Ka Niêng, nơi đất đai còn rất phì nhiêu chưa được vỡ hoang... Thế là từ đó, mỗi ngày, từ rạng sáng cho tới tối mù, anh quăng quật mở đường lên núi Ka Niêng. Đường mở tới đâu là khai khẩn đất đai tới đó để trồng cây sắn, trĩa lúa và ngô. Vụ trước tiên cho gia đình anh thu hoạch rất khá, lương thực đủ ăn tới hơn một năm sau. Thấy anh sáng cái bụng, hai người em xin theo anh để cần lao, họ hợp sức nhau mở đường lên tới đỉnh núi, khai phá và trồng hơn 50ha sắn, 50ha rừng và cây cao su. Từ 3 năm qua, riêng thu nhập từ cây sắn, ba anh em lãi ròng mỗi năm 300 triệu đồng. Anh Trung chia sẻ: “Bản Đá Bàn giống nhiều bản làng vùng cao khác, nữ giới gánh vác mọi công việc nặng nhọc của gia đình, từ đốn củi, gánh nước đến trĩa hạt lúa, ngô trên nương rẫy. Đàn ông thì rảnh lắm, ngoài việc nấu nướng và đặt bẫy thú trong rừng, chỉ biết tập kết nhau uống rượu... Cuộc sống cứ thế trôi đi thật vô bổ. Khi thấy anh em mình làm được, đàn ông trong bản cũng thay đổi nếp nghĩ, vác cuốc, vác cày lên núi phá hoang, tăng gia tư xuất...”. Ông Hồ Văn My, chủ toạ UBND xã Ba Nang phấn khởi cho biết, từ sự thay đổi kỳ diệu trong nếp nghĩ, cách làm của ba anh em Trung, Hòa và Hinh mà đến nay 100% đàn ông ở Đá Bàn, cùng 40 đến 60% đàn ông ở các thôn trên địa bàn xã, đã thay phụ nữ phụ trách công việc chính của gia đình. Sự thay đổi này đã mang lại cho người dân ở vùng cao này rất nhiều điều tốt đẹp. Nhất là không còn người uống rượu say xỉn, gây đảo lộn gia đình, mất kết đoàn với bà con dân bản. Đàn ông cầm cuốc, cầm cày thì hiệu quả công việc cao hơn nhiều, cây lúa, cây ngô nhờ đó mà tốt tươi, cho năng suất cao hơn. Xã đã tổ chức tuyên dương tấm gương chuyên cần cần lao, sáng tạo của ba anh em Trung, Hòa và Hinh. Hiện, xã đang tiếp nhân rộng mô hình về những tấm gương sáng này, bởi chỉ có qua đây mới là cách làm thiết thực giúp bà con đồng bào Pa Cô, Vân Kiều ở vùng cao thay đổi nếp nghĩ, cách làm để thoát nghèo, vươn lên làm giàu... Rời Ka Niêng khi màng tang đã xuống phía bên kia núi. Trong bạt ngàn màu xanh của rừng lao xao tiếng gió, hòa quyện với tiếng suối chảy rì rào tạo nên một bản nhạc trữ tình, như ca ngợi những chàng trai mở đường lên núi Ka Niêng. Những nhát cuốc, đường cày đã làm thay đổi hẳn nếp nghĩ lạc hậu từ bao đời của người đàn ông miền rẻo cao, để họ cùng chung tay với những người vợ, người chị và con cái xây dựng cuộc sống càng ngày càng no đủ, tươi đẹp hơn... |
Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2013
Cổ tích ở rẻo cao Đá Bàn
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét