Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2013

Bộ trưởng Giàng Seo Phử đáp thắc mắc của dân

Trong những năm qua, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, chương trình nhằm phát triển kinh tế, xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng thực tiễn vùng dân tộc thiểu số vẫn là vùng chậm phát triển, tỷ lệ đói nghèo còn cao so với bình quân chung của cả nước.

Dù lượng thư gửi về Chương trình Dân hỏi Bộ trưởng đáp không nhiều so với các lĩnh vực khác, nhưng những thông tin liên quan đến cơ chế, chính sách dành cho đồng bào dân tộc vẫn được gửi về với những trường hợp rất cụ thể của từ người dân ở một vùng cao, vùng xa nào đó, với những trằn trọc đầy tinh thần nghĩa vụ của những cán bộ cấp cơ sở…

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Giàng Seo Phử giải đáp những băn khoăn, trăn trở này.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Giàng Seo Phử (Ảnh: VTV)

PV: Thưa Bộ trưởng, xin được bắt đầu với câu hỏi của một người dân như sau: hiện nay, một số dự án hỗ trợ định canh, định cư ở địa phương đang thực hành nhưng lại bị bỏ dở dang và không biết đến bao giờ mới hoàn thành. Tại sao lại có tình trạng này? Và bao giờ những dự án này sẽ được nối lại để hoàn thành và đích thực phát huy tác dụng đối với cuộc sống của người dân ở địa phương?

Bộ trưởng Giàng Seo Phử:trước tiên phải nói một điều rằng, trong điều kiện giang san của chúng ta đang phát triển, thành ra vấn đề tỉnh thành hóa vùng nông thôn đang trở nên vấn đề trọng tâm của thảy các địa phương, phù hợp với chính sách của quốc gia. Tuy nhiên, vùng đồng bào dân tộc, nhu cầu về thành thị hóa cũng như phát triển rất quan yếu.

Vừa qua, Đảng và quốc gia đã xác định một loạt chính sách, những chính sách đó đang được thực thi, nhiều địa phương đã làm rất hiệu quả những chương trình như 135, trung tâm cụm xã, trong đó có cả khu thương nghiệp, bệnh viện…

Tuy nhiên, vẫn còn một số địa phương như đã phản chiếu về việc khai triển này. Đó là phong tục tập quán của các vùng. Chúng tôi đã soát có những hiện tượng như vậy. Có những dự án về xây dựng trọng tâm cụm xã đã được giải ngân đến 50%, nhưng lại bỏ dở, hoặc xây xong lại hoạt động không hiệu quả.

Cách khắc phục vấn đề này như thế nào? Trước hết phải xuất hành từ nhu cầu chung của cộng đồng, của người dân. Nhưng vấn đề này chẳng thể thống kê được như phía Bắc là có nhu cầu về lĩnh vực gì, Tây Nguyên có nhu cầu gì, vùng ĐBSCL thì cần cái gì?

Tôi cho rằng, cái này cần sự vào cuộc của tuốt các Bộ, ngành quản lý các chương trình, làm rõ các mục tiêu như y tế thì ai làm, chợ thì ai làm, trường ai làm… phải có bàn thảo cụ thể. Để tránh phí phạm, tôi cho rằng cần làm hai việc: thứ nhất, chúng tôi đang nối thưa với Chính phủ tiếp hoàn thiện việc đó và khẳng định lại hoàn thiện công trình đó để đưa vào dùng. Thứ hai, phải tìm hiểu và xác định lại nhu cầu, nếu không có nhu cầu chúng ta phải cắt để chuyển sang lĩnh vực khác, nội dung khác, hạng mục công trình khác để đầu tư có hiệu quả.

Nếu không kết thúc tình trạng này thì trong thực tế vừa qua, trong khoảng 10 năm trở lại đây thì có tình trạng gây hoang và người dân đã phản chiếu đúng thực trạng. Tôi cho rằng, vai trò lớn của các cấp ủy và chính quyền phải làm việc sát người dân hơn, và khi các địa phương duyệt dự án cần phải tính nết đến nhu cầu thực tế của từng địa phương, phải thích hợp với phong tục tập quán của vùng miền đó, của các đồng bào dân tộc ở đấy thì mới hiệu quả được.

PV: Thưa Bộ trưởng, về vấn đề định canh định cư, Đảng và quốc gia rất chủ ý để chỉ đạo vấn đề này. Tuy nhiên, đến nay tình trạng thiếu đất sinh sản, thiếu nước sinh hoạt vẫn đang là tình trạng khá phổ thông ở nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở những vùng tái định cư khiến cho người dân không yên tâm sản xuất. Bộ trưởng có thể nói gì về vấn đề này?

Bộ trưởng Giàng Seo Phử:Nước ta do có đặc thù mỗi vùng miền có một ưu thế riêng, nhưng cũng có hạn chế, tạo cho chúng ta sự chênh lệch. Có những vùng có quỹ đất tốt, giữa đất nông nghiệp sử dụng được vào sản xuất, nhưng cũng có vùng chỉ có núi đá, đất sinh sản được rất thấp. Ví dụ như những vùng ở các tỉnh miền núi phía Bắc: Hà Giang, Cao Bằng, Lai Châu… dù rất là rộng nhưng toàn núi đứng, không có mặt bằng nào để mà thiết lập một bản làng hay một cái sân, đây là khó khăn.

Theo ý kiến của tôi, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, ở khu vực phía Bắc có sự chia cắt lớn, độ dốc lớn ở vùng núi đá thì không bao giờ khắc phục được, vì không thể biến đá thành đất được. Chúng ta chỉ còn cách tận dụng như thế nào. Vấn đề thiếu đất đối với vùng đồng bào dân tộc, thiếu đất sinh sản, thiếu đất ở bây chừ đang trở nên vấn đề phổ biến, nhất là những vùng khó khăn, núi cao, vực sâu, sạt lở nhiều và tác động của môi trường rất nghiêm trọng.

Bên cạnh đó, đầu nguồn các sông và các thủy điện của núi đá tụ hội ở vùng này cũng là giúp cho tổ quốc, bởi nguồn điện từ đây. Nhưng đây cũng chính là khó khăn, khi tình trạng ngập lụt lại đẩy người dân vào tình trạng khó khăn, càng lên núi cao lại càng khó khăn nên nhiều vùng không có đất sản xuất. Tái định cư trở thành vấn đề bức xúc cho người dân, vì thế bây chừ chúng ta phải tính nết.

Có nhiều phương án, nhưng các địa phương phải chủ động trình Thủ tướng các dự án, giải pháp để tháo gỡ. Đối với các Bộ, ngành thì cần phải xác định cho được quỹ đất tương ứng với số dân, đảm bảo định mức tối thiểu đất sinh sản cho người dân. Vượt quá việc đó thì quốc gia phải cân đối đất và cân đối phải có đất sinh sản thì phải xếp đặt lại dân cư.

Một huyện chỉ bố trí được khoảng 5.000 người mà bố trí 10.000 người là đất bị thu hẹp và sẽ xảy ra di dân tự do. Việc này chính quyền phải làm chứ người dân không thể tự biết được và phải có cơ chế chính sách thích hợp. Hiện nay phải đánh giá, kiểm tra lại đối với các công trình thủy điện đã bố trí tái định cư rồi nhưng hiện nay quốc gia đang hỗ trợ về gạo, nhưng vấn đề khi ăn hết gạo lại không có đất sản xuất, không tạo ra nguồn lương thực mới.

Điểm thứ 2 rất quan trọng, đó là Nhà nước phải đầu tư nguồn lực để chuyển đổi ngành nghề cho người dân, đây là giải pháp hăng hái nhất.

PV: Xin được dành một câu hỏi cuối cho một người dân ở tỉnh Trà Vinh nhưng lại là câu chuyện khá điển hình cho tiêu chí phân loại và cách ứng xử với hộ nghèo, hộ thoát nghèo. Lá thư của một thính giả tên là Sơn Thị Mừng, là một hộ nghèo ở ấp Trì Phong, xã Hòa Lợi, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Gia đình chị Mừng cho biết đã 2 năm qua được xếp vào diện hộ nghèo, quốc gia hỗ trợ 2 lần tiền dầu và tiền ăn Tết 100.000 đồng/người. Tuy nhiên, mới đây gia đình chị bất ngờ được “thoát nghèo”. Xin được trích nguyên văn thư của chị như thế này: “Gia đình tôi hiện giờ còn gặp nhiều khó khăn, đất đai không có, nước sạch cũng không, điện thì câu từ hộ nghèo khác, chồng là lính xuất ngũ nghèo về đi làm thuê, hai đưa con còn nhỏ, hay đau ốm. Hộ của tôi như vậy cho thoát nghèo hay không?”. Xin Bộ trưởng cho biết ý kiến về trường hợp này.

Bộ trưởng Giàng Seo Phử:Đây là một trường hợp cụ thể, tôi cho rằng cũng không phổ thông lắm, nhưng với trường hợp như trên cần phải coi xét lại. Vì tiêu chí xét xác nhận hộ nghèo thì có tiêu chí của Chính phủ và điều kiện để thoát nghèo thì cũng có tiêu chí để đánh giá.

Hết thảy hai vấn đề này phải từ cộng đồng bình xét, tức là nơi trú ngụ phải công nhận, xác định hộ đấy là nghèo đúng với tiêu chí của Trung ương thì công nhận đây là hộ nghèo. Khi nào thoát nghèo, thì phải bảo đảm chuẩn nghèo thì tôi cho rằng đây không phải là tiêu chí xác định thoát nghèo, đây chỉ là tiền Chính phủ cho ăn Tết thôi, nên cần phải xem lại trường hợp này.

Và gửi câu hỏi đến, tôi cũng xin giải đáp với hộ gia đình này vẫn chưa đủ điều kiện để thoát nghèo và vẫn là hộ nghèo, thành ra chính quyền địa phương cần phải xem xét lại. Na ná ở các địa phương, chúng ta cũng cần phải rà lại và phải có công nhận cho khách quan, đúng với tiêu chí quy định của Trung ương.

PV: Xin cảm ơn Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc đã đáp chuyên mục “Dân hỏi Bộ trưởng trả lời”./.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét