Phan Thu

Hơn 70% DN còn lại cốt là DN Việt Nam vừa và nhỏ, giá trị XK cũng chỉ chiếm hơn 20%. Thậm chí ngành hàng mới nổi, đóng góp không nhỏ vào kim ngạch XK chung của cả nước là điện tử và linh kiện điện tử bị chi phối bởi các công ty nước ngoài, đặc biệt là các nhà sinh sản thương hiệu lớn như Canon, Panasonic chuyển đến Việt Nam để giảm phí sản xuất. Công nghiệp… gia công Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, dù Việt Nam nằm trong nhóm năm nước XK dệt may hàng đầu thế giới với doanh thu năm 2012 đạt 17,2 tỷ USD, dự định năm 2013 có thể đạt 19 tỷ USD nhưng giá trị gia tăng tạo ra trong nước không nhiều do lệ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu NK và nặng về phương thức gia công.
Việc XK vật liệu thô mặc dù vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong sản lượng XK nhưng đã sụt giảm trong thời kì qua, từ 51,7% năm 2000 xuống còn 30% trong năm 2010 và 9 tháng đầu năm 2013 chỉ chiếm trên 22% tổng kim ngạch XK. Các DN Việt Nam cũng có đóng góp cho thành tích XK nhưng không đáng kể, chính yếu là gia công cho các công ty nước ngoài, với các thị trường chính yếu như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Đài Loan (Trung Quốc) và các nước ASEAN.
Ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ toạ Hội Da giày Việt Nam cho biết. Theo giới chuyên gia, yếu kém trong chuỗi cung ứng hàng công nghiệp chế biến và sản phẩm nông nghiệp đã cản ngăn Việt Nam giảm hoài XK để tạo giá trị gia tăng cần thiết

Song hành với nhóm hàng công nghiệp chế biến, các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam như cà phê, gạo, chè, thủy sản… mặc dầu đứng vị trí nhất nhì trên thế giới nhưng giá bán rất thấp, lợi nhuận thu về ít.
Chuỗi cung ứng gạo là tỉ dụ tiêu biểu cho các sản phẩm nông nghiệp. Hạn chế đốn đối với hàng công nghiệp chế biến là phụ thuộc quá nhiều vào vật liệu NK, ít kinh nghiệm trong việc lớp nguồn nguyên liệu, phụ thuộc vào trung gian trong cả hai khâu tìm nguồn cung và nhận biết tín hiệu thị trường… Rà soát cụ thể vào một số ngành hàng XK chủ lực có thể thấy ngay điều này.
Số còn lại là các nhà sinh sản theo giao kèo có dự mua nguyên vật liệu và một số lượng nhỏ hơn dự vào sản xuất, mua nguyên nguyên liệu và tìm nguồn cung ứng. Đối với ngành dệt may, hầu hết các công ty trong ngành công nghiệp may mặc chỉ tham dự vào gia công sinh sản, với 60% trong số này là những nhà máy cung cấp hàng gia công cho chủ hàng nước ngoài.
Ảnh: ST. Na ná ngành da giày cũng vậy. Theo đó, chuỗi cung ứng gạo cho XK của Việt Nam còn hạn chế về vốn và quy mô giao dịch, tình trạng “đấu trộn” gạo với các chất lượng khác nhau còn phổ biến; người dân cày sản xuất không có nhiều động lực để cải thiện chất lượng lúa gạo do lợi nhuận thấp, Chính phủ có rất ít tín hiệu nhằm giảm vai trò của DN Nhà nước trong kinh doanh… Vai trò của Chính phủ Ngành dệt may hiện có khoảng 9

Nhà máy cung cấp hàng gia công cho chủ hàng nước ngoài chiếm 45% tổng số các nhà máy, 60% vật liệu thô được NK, cốt tử từ các nước châu Á.
Trong năm 2012 ngành may có nhu cầu 6,8 tỷ mét vải, nhưng nguồn cung trong nước chỉ có 0,8 tỷ mét, còn lại phải NK. 60% DN dệt may là những nhà máy cung cấp hàng gia công cho chủ hàng nước ngoài. Nên chi, để tái cơ cấu chuỗi cung ứng sản phẩm nông nghiệp, nhất là mặt hàng gạo, Chính phủ cần khuyến khích tăng quy mô sản xuất và chất lượng gạo, đương đại hóa công nghệ chế biến và tăng tỷ trọng bán hàng DN với DN.
Trên thực tiễn, việc phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ sẽ giúp các nhà XK giảm uổng và thời gian mua vật tư tại chỗ, tăng độ tin giao hàng, đáp ứng linh hoạt hơn với yêu cầu của khách hàng quốc tế. Chỉ có 2% số DN trong ngành là công ty sản xuất thiết kế gốc.
Giá trị gia tăng đem lại rất thấp bởi chủ yếu là gia công cho nước ngoài, còn các sản phẩm nông nghiệp vẫn xuất thô là chính.
Duyên cớ của tình trạng này được ông Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (Bộ NN&PTNT) chỉ ra là do chúng ta chưa hình thành được chuỗi ngành hàng đồng bộ dẫn tới biến động giá theo mùa lớn đối với mọi hàng hóa, hay nói cách khác là luôn trong cảnh “được mùa mất giá”

Còn ngành da giày, túi xách có hơn 20% là DN lớn nhưng DN FDI chiếm phần nhiều, với giá trị XK hơn 75%. Thí dụ như ngành điện tử và thiết bị điện tử, Chính phủ cần khuyến khích phát triển các cụm sinh sản, bảo đảm hỗ trợ logistic và cung cấp hạ tầng liên lạc trong một kế hoạch tổng thể cấp quốc gia chứ không phải trên cở sở riêng lẻ vụn vặt.
Nguồn: mỏng tạo thuận lợi thương nghiệp, tạo giá trị và năng lực cạnh tranh- Gợi ý chính sách cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam Sự manh mún, kém phát triển của ngành công nghiệp tương trợ cũng là duyên cớ khiến cho chuỗi cung ứng ngành công nghiệp chế biến khó thực hành.
000 DN nhưng có đến 70% là DN vừa và nhỏ. Ngoài ra, cần có chính sách khuyến khích tiếp nhận và cập nhật công nghệ trong đó ngành giáo dục cần cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng được về số lượng và chất lượng.
Những hạn chế trên khiến cho nhiều ngành hàng XK của Việt Nam “có tiếng” nhưng không “có miếng”. Chẳng hạn, nguyên liệu bông NK hiện chiếm đến 99% nhu cầu, nguồn bông trong nước chỉ đáp ứng 1%. Ông Phạm Minh Đức, chuyên gia cao cấp của nhà băng Thế giới tại Việt Nam cho rằng, sau một thập niên phát triển nhanh, tốc độ tăng trưởng của các sản phẩm nông nghiệp dự tính sẽ giảm do đã chạm ngưỡng về đất đai và lao động.
Đặc biệt, DN dệt may vẫn phải NK đến 80% vật liệu để sản xuất, gia công cho nước ngoài. Còn theo ông Sơn, để đẩy mạnh chuỗi cung ứng sản phẩm nông nghiệp, cần đẩy mạnh hơn nữa việc sắp đặt lại các DN Nhà nước theo hướng cổ phần hóa, bán khoán cho thuê, liên doanh hợp doanh để đa dạng hóa hình thức sở hữu làm cho DN hướng về thị trường hơn nữa; song song sớm tạo ra hành lang pháp lý, chính sách thông thoáng, trong đó mọi thành phần kinh tế được đối công bằng, tạo điều kiện tiện lợi cuốn đầu tư của các thành phần kinh tế vào nông nghiệp và nông thôn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét