Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2013

Công năng hay "thầy"?. Chuyện "thày".

Ghét mặc sức. "Mày". Quan trọng hơn hết. Đố mày làm nên. Ca dao. Phổ cập phía bắc từ thượng cổ. "Tày" của phía bắc. Nhưng khen bằng trời thì không được. " Chữ “thày” ở đây vần với chữ “mày”. Chê ghét được cổ súy hơn khen mến. “Công tày đình”. Không tày học bạn". Nói “tội tày đình".

Không thấy người Việt nói “tài tày đình”. Chữ “thày” ở đây vần với chữ “tày”. Và cũng gọi “thầy”. Chữ "tày" cũng vậy. Về lịch sử. Tôi xưa nay vẫn dùng chữ "thày". "Học thày. "Mầy". Vì sao vậy? Vấn đề không thuần tuý là “thói quen”. Tôi nghĩ nên sử dụng cả hai cách phát âm.

Ca dao. "Tày" và cả "thầy". Kí ức đó không chỉ đơn giản là “kỉ niệm”. “Đức tày trời”. "Tầy". "Không thày. Nghĩa là bảng chân lý văn hóa cho chê. "Mày". Chữ "tày" tức là "bằng với". Tức là tội lớn như trời. Gọi "mầy". Bằng cả trời. Phổ cập phía bắc từ thượng cổ. Chữ "mày" cũng vậy. Phía miền trung và nam. Nó còn là chìa khóa để giúp con người lần lại các kí ức khác.

Cho bõ lòng căm tức. Gọi "tầy". Thay nó bằng chữ “thầy”. Hoặc “gu” trong trường hợp này: bởi lẽ tiếng nói là kí ức của một cộng đồng.

Tiếng Việt vốn lớn lên (cả) từ vùng đồng bằng sông Hồng.

Là không độc đoán xóa đi chữ "thày" của cả ngàn năm. Giúp giải mã các kí ức khác.

Phạm húy trời. Rất tiếc là nhiều tờ báo cứ thấy chữ “thày” tôi dùng thì tất nhiên xóa đi. Phía miền trung và nam. Cả "thày".

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét