Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

Cái đội đầu.

Họ chỉ mặc những thứ ấy khi “bà Tưng” có đề nghị. Mũ cối của tự vệ sao vuông Hà Nội và mũ công nhân vải xanh chéo sĩ lâm lưỡi trai nhựa đen. Các hãng sinh sản mũ trong nước và những nhà nhập cảng phát tài trong suốt 26 năm liền.

Sau giải phóng Sài Gòn mọi người đều đội mũ. Giờ thì mũ bảo hiểm thống trị khắp phố xá.

Trót lấm bẩn chỉ dùng phấn trắng xóa đi. Thứ y phục đã từng mon men xếp hàng vào cuộc thi tìm quốc phục. Ông không tự tin lắm với vầng trán cao đầy tư lự của mình? Trái ngược hẳn với một nhà phê bình mỹ thuật lớp đàn em luôn bắt thợ cắt tóc cạo lẹm sâu vào chân tóc trước trán và không bao giờ đội mũ.

Họa sĩ Nguyễn minh mẫn đời gắn bó với chiếc mũ vải lưỡi trai màu cỏ úa chỉ trừ lúc đi ngủ. Nụ cười sáng rực của chị Nguyễn Thị Định, chị Kan Lịch dưới vành mũ tai bèo đã chứng minh được trót niềm tự hào và vẻ đẹp của đàn bà đội mũ. Cái nón lá cọ dần biến mất ở thành thị. Cũng chỉ ở tỉnh thành mới có.

Mũ công nhân nữ có chỏm rộng đủ để đựng cả mớ tóc dài búi gọn. Cho đến khi công văn 407/CP-CN của Chính phủ ra đời ngày 15-5-2001. Nữ giới lúc ấy đội mũ ra đường không ai khen đẹp mà người ta chỉ hỏi nhỏ vào tai nhau rằng “Chị ấy có làm sao không?”. Một thứ nhất mực là chiếc khăn vấn. Nhưng cái làm anh giống với một thổ dân chưa bao giờ là chiếc mũ ấy.

Mũ của đàn ông phong phú lên rất nhiều từ thời Pháp thuộc ở các thành phố lớn. Hiếm hoi lắm mới có một người đủ dũng mãnh đội chiếc mũ len đan tay ra đường. Các hãng mũ thời trang đóng cửa hàng loạt nhường chỗ cho thị trường mũ bảo hiểm.

Vài người nhiêu khê trang phục còn nuốm đem theo trên xe máy chiếc mũ vải mềm để đội mỗi lúc xuống xe. Nhưng lũ ăn trộm luôn đội mũ bảo hiểm trước khi lấy trộm xe máy.

Nghệ sĩ performance Đào Anh Khánh đội chiếc mũ phớt thổ dân hàng xịn mang từ Mỹ về. Đàn bà e ấp dưới vành mũ nan, mũ cói theo phim Tiếng chim hót trong bụi mận gai, Trở lại Eden. Cả hai thứ ấy đều được quốc gia phát. Sau đó là nón mê cho những người làm ruộng. Vài người không đội mũ bảo hiểm có thể bị truy đuổi như tù hãm.

Ngày mai của nghề mũ không hoàn toàn ám muội. Nhẹ và rộng vành che nắng rất tốt. Các công tử nhà giàu hoặc viên chức tay chơi có chiếc mũ phớt dạ nhập nội. Xem video an ninh ở các cửa hàng, công sở thì thấy. Mũ phớt có ý tức thị thời trang nhiều hơn công dụng của nó.

Thật may, các nữ chiến sĩ giải phóng quân và thanh niên xung phong lúc ấy được phát những bộ quân phục chiến trường Dân tộc giải phóng miền Nam.

Những mũ khác vẫn bị coi là thành phần ăn chơi lẳng lơ đáng ngại và cũng có chút tâm thần lãng đãng mây trời. Nhưng phải hạn chế giặt. Chiếc mũ vải tai bèo màu xanh bộ đội là điểm nhấn dị biệt của bộ binh phục ấy. ĐỖ PHẤN. Người Việt có khả năng chế tạo ra mọi loại mũ, chỉ trừ mũ phớt dạ vẫn phải nhập cho đến tận hiện thời.

Lúc ấy phụ nữ chỉ có hai thứ mũ để đội. Đàn ông mũ nồi (beret), mũ lưỡi trai dài, mũ cát-két (casquettes), mũ phớt, mũ lá, mũ nan, mũ cối theo những trào lưu nở rộ từng thời kỳ.

Chỉ có điều không ai mường tượng ra nổi thứ đội trên đầu lúc ấy sẽ có hình ảnh như thế nào.

Trừ quan chức sắc triều đình có mũ áo vua ban theo phẩm trật, đàn ông xứ Bắc xưa có hai thứ để đội trên đầu. Đến một lúc nào đó ô tô thay thế vơ xe máy thì nghề sản xuất mũ sẽ lại phục hưng. Rất buồn cười là trước năm 1975 cả miền Bắc gần như chơi có đàn bà nào đội mũ để làm đẹp. Đàn ông Việt hiện thời khác xa rồi.

Nhạc sĩ Nguyễn Cường, một cao bồi Hàng Bạc - Hà Nội vẫn đội mũ phớt da thổ dân lên sân khấu vào các tối biểu diễn hẳn là không phải để che nắng.

Mọi người đi xe máy trên đường bắt phải đội mũ bảo hiểm. Nhưng độ mềm mại nhu nhược đến mức ẻo lả của nó khó lòng vượt qua vòng “gửi xe”.

Đám học hành khoa cử có khăn xếp áo the và chiếc ô lục soạn như y phục của hào lý lúc bấy giờ. Được ít lâu cũng phát chán. Đi cùng với y phục tây bao giờ cũng có những chiếc mũ cát (casque) bằng gỗ dút (hoặc lìege) lợp vải trắng. Đơn giản vì xe máy là công cụ chiếm số đông ở thành phố.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét